Tháo nút thắt phát triển nông nghiệp hữu cơ

Tháo nút thắt phát triển nông nghiệp hữu cơ
Phí cấp chứng nhận cho sản phẩm rau hữu cơ khoảng vài chục triệu đồng/ha; doanh nghiệp (DN) phải tự làm thị trường cho sản phẩm của mình; cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý của Chính phủ về lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ (NNHC) còn thiếu… khiến NNHC Việt Nam chưa thể “cất cánh”.

Theo thống kê, hiện nay đã có 33/63 tỉnh, thành có mô hình sản xuất NNHC, diện tích khoảng 70.000 ha với các hình thức, quy mô, sản phẩm rất đa dạng.

Tuy nhiên, ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, cho biết, sản xuất NNHC còn rất nhỏ về quy mô sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ.

Vướng đủ đường

Đồng thời, hiện nước ta cũng chưa có hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia, các tổ chức chứng nhận và khung pháp lý đồng bộ cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm NNHC, cũng như lòng tin của người tiêu dùng (NTD) chưa được đảm bảo. 

Tại Diễn đàn Quốc tế NNHC Việt Nam phát triển và hội nhập vừa diễn ra, bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH, chia sẻ TH bắt đầu triển khai sản xuất hữu cơ từ năm 2013 (áp dụng đầu tiên cho rau, dược liệu). 

Tuy nhiên, thị trường sản phẩm hữu cơ hiện nay chưa gây dựng được niềm tin với NTD. Trong chuỗi sản xuất hữu cơ, chưa có cơ quan nào kiểm soát bao quát được toàn bộ chuỗi (từ trồng trọt, sơ chế, phân phối, chế biến…). Chỉ cần một khâu làm ăn gian dối là cả quy trình bị vô hiệu hóa.

Một thực tế nữa là chi phí sản xuất hữu cơ cao hơn sản xuất thông thường, nên các sản phẩm bình thường cũng “đội lốt” hữu cơ, gây hiểu nhầm cho sản phẩm. 

Đại diện Sở NN&PTNT Quảng Ninh, cho biết năm 2014, trên địa bàn tỉnh có công ty CP Teranique đã tiệm cận với quy trình sản xuất rau hữu cơ. Các sản phẩm hữu cơ sản xuất được công ty tiêu thụ dưới hình thức liên kết tiêu thụ tại một số cửa hàng, nhà hàng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, đến nay, công ty này vẫn hoạt động cầm chừng. 

Nguyên nhân là vì phải đối mặt với nhiều khó khăn như kinh phí cấp chứng nhận cho sản phẩm rau hữu cơ rất tốn kém so với thu nhập của các nông hộ (khoảng vài chục triệu đồng/ha). Đây cũng chính là rào cản lớn khiến cho Quảng Ninh chưa có sản phẩm rau hữu cơ được chứng nhận. 

Quảng Ninh đã có quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, tuy nhiên việc quy hoạch vùng sản xuất hữu cơ tại các địa phương chưa cụ thể, cũng như chưa có tổ chức chứng nhận được Nhà nước thành lập hoặc chỉ định hoạt động chứng nhận sản phẩm NNHC, ngoài việc TCVN số 11041:2015 mới được ban hành.

Đồng quan điểm, PGs.Ts. Lê Văn Hưng, Hiệp hội NNHC Việt Nam, cho biết đến nay, cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý của Chính phủ về lĩnh vực NNHC còn thiếu và hầu như chưa có cho việc hướng dẫn kỹ thuật, chứng nhận, xúc tiến thương mại, cơ chế đầu tư, dịch vụ, cung cấp vật tư đầu vào cho NNHC như phân bón, thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu…

Trong khi đó, NTD thiếu thông tin, chưa biết nhiều, hiểu nhiều về NNHC và sản phẩm hữu cơ, do vậy chưa tồn tại, hình thành thị trường tiêu thụ tại chỗ và chưa khuyến khích các nhà sản xuất chuyển đổi từ nông nghiệp thông thường sang NNHC.

Kinh phí cấp chứng nhận cho sản phẩm rau hữu cơ rất tốn kém khoảng vài trục triệu đồng/ha 
 

Hình thành hệ sinh thái phát triển NNHC

Về vấn đề tìm thị trường tiêu thụ, ông Nguyễn Đại Thắng, Chủ tịch HĐQT công ty CP Trang trại Bảo Châu, cho rằng tiêu thụ sản phẩm hữu cơ là điểm mấu chốt cho tồn tại của NNHC nói chung và DN nói riêng.

Theo ông Thắng, hiện nay, DN phải tự làm thị trường cho sản phẩm của mình nên gặp vô vàn khó khăn, trở ngại, nhiều lúc còn bị thua lỗ trầm trọng kéo dài. Do đó phải tạo ra nhiều chuỗi “từ sản xuất đến phân phối tận tay NTD” có sự ràng buộc trong các mối liên kết hữu cơ với nhau vì mục tiêu cùng có lợi. 

Theo ông Nguyễn Ngọc Hưng, Phó Trưởng Đại diện Tổ chức ADDA tại Việt Nam, Việt Nam mới chỉ bắt đầu phong trào sản xuất hữu cơ, với việc cả nông dân và NTD đều đón nhận các sản phẩm hữu cơ. Nông dân cần phải nhận thức được các khả năng về lợi ích kinh tế có thể đạt được từ sản xuất hữu cơ và NTD cần phải nhận thức được lợi ích từ việc mua các sản phẩm hữu cơ dù cho giá thành cao hơn.

Tiềm năng này là rất lớn, yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải có một hệ thống chứng nhận tốt và đáng tin cậy được nước ngoài chấp nhận. Phải chú ý không bao giờ được gian lận với các tiêu chuẩn hữu cơ. 

Đáng chú ý, ông Hưng kiến nghị Việt Nam cần thiết lập một hệ thống xuất khẩu cho các sản phẩm hữu cơ. Tốt nhất đó là các hợp tác xã được sở hữu và quản lý bởi nông dân và nếu việc này gặp khó khăn thì có thể mời các công ty nước ngoài hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu.

“Sản phẩm hữu cơ của Việt Nam cần phải tốt hơn so với những nước khác. Việt Nam nên thiết lập một hệ thống tư vấn cho hoạt động sản xuất hữu cơ mà ban đầu người dân không phải trả phí”, ông Hưng đề xuất. 

Khẳng định rất nhiều sản phẩm của Việt Nam có thể phát triển NNHC, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhìn nhận việc một số ý kiến nói rằng NNHC chỉ phục vụ người giàu, cho xuất khẩu là chưa đúng, chưa đủ. NNHC sẽ phục vụ cho người dân khi mà ở Việt Nam hiện nay đang chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu, từ mức 10% dân số hiện nay sẽ lên khoảng 50% vào năm 2035. 

Thủ tướng nhất trí cần sớm xây dựng quy trình sản xuất NNHC theo tiêu chuẩn quốc tế, thiết lập hệ thống kiểm tra nghiêm khắc, minh bạch và hiệu quả để các sản phẩm Việt Nam có uy tín và giành được sự tin cậy của thế giới.

Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT xây dựng Đề án phát triển NNHC giai đoạn 2018 – 2025, tầm nhìn 2035, trình Thủ tướng phê duyệt trong đầu năm 2018 nhằm định hướng, cụ thể hóa các hoạt động thúc đẩy sản xuất NNHC, bảo đảm đầy đủ cơ sở khoa học, thực tiễn.

Trong đó, tập trung vào một số nút thắt cần tháo gỡ như cơ chế chính sách, vấn đề hạn điền, nguồn nhân lực, kỹ thuật…

Đặc biệt, Thủ tướng cho biết sẽ ban hành nghị định mới về NNHC. Cùng với đó, sẽ thay thế Nghị định 210 về đầu tư trong nông nghiệp. “Tất cả thể chế, chính sách, đặc biệt nghị định, thông tư trong phạm vi của Chính phủ, chúng tôi sẽ tiếp thu để làm nhanh hơn, tạo điều kiện cho NNHC phát triển”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, Thủ tướng lưu ý phải hình thành hệ sinh thái phát triển NNHC, một văn hóa NNHC ở nông thôn và nông dân, văn hóa đó không thể theo kiểu “lợn hai chuồng, rau hai luống”.

“NNHC không thể phát triển theo phong trào ồ ạt, chưa thể sớm thành sản phẩm phổ cập cho mọi người mà đòi hỏi phát triển hết sức bài bản, khoa học”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo. 

Lê Thúy 

Ông Nguyễn Xuân Cường - Bộ trưởng Bộ NN&PTNT 

Để chuyển hướng sản xuất NNHC từ một nền sản xuất nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động, thâm dụng nhiều sản phẩm đầu vào là sản phẩm của quá trình công nghiệp với năng suất sinh học cao như hiện nay sang một hướng sản xuất hữu cơ với quy trình kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn đầu vào trong chu trình sản xuất cho đến xây dựng, phát triển thị trường mới sẽ là khó khăn, thậm chí là rất khó. Vì vậy, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ cả ở cấp Chính phủ, doanh nghiệp, người nông dân, cùng với sự đón nhận, chia sẻ, hợp tác quốc tế.

Bà Thái Hương - Chủ tịch Tập đoàn TH 

Quá trình sản xuất hữu cơ đang có sự cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy cơ quan quản lý cần đưa ra bộ tiêu chí tiêu chuẩn sản phẩm quốc gia về sản phẩm nông nghiệp nói chung và NNHC nói riêng, để DN tự đăng ký và thực hiện dưới sự giám sát của hiệp hội, NTD. 

Ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Chi phí để sản xuất sản phẩm NNHC rất cao, Chính phủ cần làm sao để giảm chi phí để giúp cho doanh nghiệp phát triển. Việc giải quyết chi phí, các luật lệ, nhập nhèm giữa sản phẩm hữu cơ và không hữu cơ gắn với triển vọng của thị trường NNHC trong thời gian tới, đồng thời cần gắn với trách nhiệm với cơ quan, các cấp các ngành có liên quan. 

 

Theo thoibaokinhdoanh.vn