Khó khăn tìm giải pháp phát triển bền vững làng nghề

Khó khăn tìm giải pháp phát triển bền vững làng nghề
Là một quốc gia có thế mạnh về những sản phẩm làng nghề truyền thống, góp phần tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động nông thôn, trong đó có địa phương thu hút hơn 60% lao động. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các làng nghề đang lâm vào cảnh "thoái trào", lúng túng thậm chí là bế tắc trong tìm hướng đi mới để phát triển bền vững.
 

Nhiều làng nghề muốn... bỏ nghề!

Nếu trước đây, gốm sứ làng nghề Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) vốn nổi tiếng bởi thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, kim ngạch xuất khẩu luôn dẫn đầu các làng nghề trong cả nước, giải quyết việc làm cho khoảng 6.000 lao động thì giờ đây con số đó chỉ còn một nửa và lượng khách mua hàng cũng sụt giảm, nhiều đơn hàng bị cắt, lượng hàng tồn kho cao.

Cùng chung “số phận” với gốm sứ Bát Tràng là các làng nghề: lụa Vạn Phúc (Hà Đông); nghề cỏ tế xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội; làng nghề chạm khắc gỗ Ðông Giao, xã Lương Ðiền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; làng nghề gỗ mỹ nghệ Ðồng Kỵ, Từ Sơn (Bắc Ninh)... Ở các làng nghề này, cảnh đìu hiu vắng bóng khách giao dịch làm ăn, tham quan, mua sắm là không khí bao trùm.

Ngay cả người tiêu dùng trong nước cũng gặp khó khăn khi muốn lựa chọn sản phẩm làng nghề. Có tỉnh có tới hàng trăm sản phẩm, nhưng không có sản phẩm nào nổi tiếng hoặc nhiều tỉnh có chung một loại sản phẩm. Chị Nguyễn Thị Minh (Bình Lục, Hà Nam) nói: “Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ… đều rất nhiều làng nghề mây tre đan. Tuy nhiên khi muốn mua một sản phẩm bình hoa bằng mây tre đan thì lại không dễ tìm”. Một số chủ cơ sở sản xuất hàng thủ công ở làng nghề còn cho biết, hiện nay đang xảy ra tình trạng mua bán sản phẩm, thuê gia công giữa các làng nghề có cùng mặt hàng. Điều này dẫn đến sản phẩm làng nghề tiếp tục bị phân tán, giảm bản sắc...

Khó khăn tìm duy trì và phát triển làng nghề

Từ năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NÐ-CP về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, và Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề cũng được phê duyệt từ tháng 10/2011. Tuy nhiên theo Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam - ông Lưu Duy Dần, thì đến nay các làng nghề vẫn đang phải đối mặt với khó khăn chồng chất.

 

Hầu hết khách đến hội chợ làng nghề chủ yếu để tham quan.

 

Theo số liệu điều tra và báo cáo kiến nghị của nhiều địa phương, có 18/51 tỉnh, thành cho rằng, đang có sự chồng chéo về quản lý ngành nghề nông thôn giữa các cơ quan nhà nước từ T.Ư đến địa phương. Chưa có chính sách phát huy sự tham gia, liên kết giữa cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà đầu tư và thị trường. Các chính sách về vốn tín dụng cho phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề được quy định trong Nghị định 66/2006/NÐ-CP còn nhiều vướng mắc, dẫn đến các hộ sản xuất, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Định hướng phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn 2012 - 2020 là thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề, phát triển làng nghề theo hướng hình thành các cụm công nghiệp quy mô nhỏ và vừa; phát triển làng nghề cần gắn với hoạt động văn hoá, du lịch, bảo vệ môi trường, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương.

Phát triển ngành nghề nông thôn cần phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, hệ thống giao thông đầu mối. Xây dựng, thực hiện chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề phù hợp với chủ trương xây dựng nông thôn mới.

 

Việc phát triển nguồn nhân lực tại các làng nghề chưa được các cấp chính quyền địa phương quan tâm đúng mức; các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và quốc tế chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Sản phẩm làng nghề thường chậm đổi mới mẫu mã; chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp chưa được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu tâm lý của người tiêu dùng là những nguyên nhân khiến làng nghề ngày thêm sa sút.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kỉnh Tần giải pháp phát triển làng nghề bền vững là các địa phương cần phải tập trung những sản phẩm chủ lực để xây dựng và phát triển làng nghề. “Việc chọn sản phẩm làng nghề chủ lực, sẽ làm cho sự hỗ trợ của Nhà nước mang tính tập trung, hiệu quả hơn”.

Một vị lãnh đạo Hiệp hội Làng nghề đã thẳng thắn: Cần sửa đổi, bổ sung Nghị định số 66/2006/NÐ-CPcủa Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó sửa đổi, làm rõ một số nhóm ngành nghề, cần bổ sung một số chính sách phù hợp với chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới. Các chính sách tín dụng cho ngành nghề nông thôn cũng phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với thực tế sản xuất. Nhà nước cần tiếp tục có chính sách ưu đãi về thuế đối với các hoạt động duy trì, phục hồi và phát triển nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu theo quy định của pháp luật về thuế.

Mặt khác, các làng nghề cũng phải “tự cứu lấy mình”, làm tốt công tác quảng bá sản phẩm thủ công truyền thống ở thị trường trong nước và nước ngoài; phổ biến và truyền dạy kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; hỗ trợ việc duy trì và phục hồi các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Có như vậy các làng nghề truyền thống sẽ có cơ hội phát triển một cách bền vững…

Lưu Hiệp

 
Theo cand.com.vn